![]() |
| Các đơn vị của TKV đang nỗ lực khắc phục sự cố, sớm đi vào sản xuất ổn định để bù sản lượng |
Tăng sản lượng những tháng cuối năm
Ông Đặng Thanh Hải- Tổng giám đốc TKV- cho biết, TKV sẽ tập trung cao độ vào 3 nhiệm vụ: An toàn, an sinh và an ninh. Trong đó vấn đề an toàn luôn là mối lo nặng nề nhất sau các đợt mưa lũ. Nhất là sau đợt mưa lũ vừa qua, vụ bục nước tại Công ty than Hòn Gai đã cướp đi sinh mạng của 2 thợ mỏ. Về vấn đề an sinh, do các đơn vị phải ngừng sản xuất, tập trung phòng chống lụt bão và xử lý sự cố nên sản lượng than sản xuất và tiêu thụ không đạt kế hoạch, ảnh hưởng lớn đến việc làm và thu nhập của thợ mỏ. Cụ thể, trong tháng 8, toàn tập đoàn chỉ sản xuất được 2 triệu tấn than nguyên khai, than tiêu thụ đạt 2,85 triệu tấn; doanh thu tiêu thụ than đạt 3.881 tỷ đồng; sản xuất, tiêu thụ khoáng sản 516 tỷ đồng; sản xuất, bán điện 715 tỷ đồng; sản xuất cơ khí 258,6 tỷ đồng; vật liệu nổ OKLVIE sản phẩm thuộc hệ thống OKVIP là trang web tổ chức phát sóng bóng đá trực tiếp, live casino , nỗ hũ, bắn cá 286 tỷ đồng. Các chỉ tiêu Okvip - liên minh giải trí #1 thế giới hà nội kỹ thuật đều tụt giảm 10-20%. Tình trạng khai thác than trái phép được kiểm soát, ngăn chặn. Tuy nhiên, TKV chỉ đạo các đơn vị phối hợp với địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác an ninh, trật tự trên địa bàn. Tập trung cao nhất khắc phục sự cố, sớm đi vào sản xuất ổn định để bù sản lượng. Đối với công tác an toàn, cần phải tăng cường kiểm tra, đôn đốc các đơn vị sản xuất triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn; đặc biệt quan tâm công tác thoát nước hầm lò; thường xuyên kiểm tra các bãi thải để phát hiện kịp thời các nguy cơ sạt lở bãi thải giáp khu dân cư… Theo đó, trong tháng 9, tập đoàn phấn đấu sản xuất 3 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ 3 triệu tấn (Liên Minh Truyền Thông Và Game Giải Trí Top 1 130.000 tấn, trong nước 2,87 triệu tấn)...
Cải tạo các mỏ khai thác lộ thiên sau mưa lũ
Sau đợt mưa lũ lịch sử, dư luận quan tâm đặc biệt đến vấn đề an toàn đổ thải của các mỏ lộ thiên do TKV khai thác, nhất là vùng Cẩm Phả. Hiện, TKV đã chỉ đạo các đơn vị tập trung các giải pháp nhằm cải tạo, thay đổi công nghệ đáp ứng sản lượng, nâng cao hiệu quả và độ an toàn các mỏ than hầm lò, lộ thiên công suất lớn khi khai thác xuống sâu. Theo tính toán, hiện nay hệ số bóc đất của Than Cọc Sáu đã lên đến 12 -13 m3/tấn than với cung độ vận chuyển gần chục km. Bình quân mỗi năm, công nhân, cán bộ công ty bốc xúc và vận chuyển khoảng 35 triệu m3 đất đá để khai thác trên 3 triệu tấn than nguyên khai. Trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa kỹ thuật các mỏ lộ thiên công suất lớn vùng Cẩm Phả gồm Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai cho thấy, các mỏ này đều khai thác xuống sâu và mở rộng quy mô khai thác. Vì vậy, cung độ vận tải ngày càng tăng, chiều cao nâng tải lớn, hệ số bóc ngày càng cao. TKV đề xuất giải pháp kết nối chung công tác kỹ thuật các mỏ để có chiến lược vận tải và đổ thải, lộ trình khai thác hợp lý.
Về kỹ thuật, đối với các tầng ngập nước, các chuyên gia tư vấn của TKV đề xuất áp dụng các giải pháp công nghệ nổ mìn hợp lý: nạp thuốc trong bao nilon, nạp thuốc nổ nhũ tương rời bằng xe chuyên dùng; áp dụng nổ mìn giảm chấn động; phá vỡ đá quá cỡ bằng đầu đập thủy lực... Đồng thời, lựa chọn và đầu tư đồng bộ thiết bị công suất lớn: máy khoan có đường kính 250 - 300mm, máy xúc (đất đá 6,7 - 15m3 than 3,5 - 6,7m3), tải trọng ôtô vận tải đất đá 58-140 tấn và than 30-55 tấn; áp dụng công nghệ khai thác theo lớp đứng; áp dụng vận tải liên hợp đối với mỏ Cao Sơn, Đèo Nai, Cọc Sáu; tận dụng không gian kết thúc khai thác để đổ bãi thải trong hoặc bãi thải tạm... Đối với các mỏ xuống sâu, khi bờ mỏ không ổn định sẽ áp dụng các giải pháp: tháo khô bờ mỏ bằng hệ thống lỗ khoan; gia cường khối đá bằng bê tông phun, xi măng hóa; neo bờ mỏ; nổ mìn vi sai toàn phần, nổ tạo biên...
| Theo Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến năm 2020, trong vùng Cẩm Phả có sản lượng than khai thác từ 14-16 triệu tấn/năm, tương ứng khối lượng đất bóc lên tới 180-200 triệu m3/năm. TKV đang xem xét khai thác theo dạng cụm mỏ, trên cơ sở đó, lựa chọn trình tự khai thác tối đa tài nguyên, công suất hợp lý cho từng mỏ, từng khu vực để đổ thải, hoàn thổ; mở rộng công suất thiết bị công nghệ, sử dụng công nghệ vận tải liên hợp, góp phần khai thác xuống sâu cho các mỏ lộ thiên. |
